thuyền câu, những khu người da đỏ và phong cảnh thiên nhiên.
Công việc cho tờ National Geographic khiến tôi thường phải ở lại những vùng xa trong nhiều tháng, nhất là khi làm một phóng sự lớn, chẳng hạn ỏ vùng Amazone hoặc sa mạc Sahra. Thường thì khi làm một phóng sự như cái tôi hiện làm, tôi đáp máy bay rồi thuê một chiếc xe hơi tại chỗ. Nhưng tôi muốn đi ngang qua một số vùng để có dịp chuẩn bị cho một vài phóng sự tương lai, nên tôi đến đây bằng cách lái xe qua vùng Thượng Hồ và sẽ trở về qua ngã Hắc Sơn. Thế, còn bà... “.
Francesca không chờ đợi câu hỏi này. Bà ngần ngừ một lát: ”ồ, thật ra chẳng có gì đáng nói cả. Tôi có đậu bằng văn chương. Khi tôi về đây năm 1946, Winterset đang thiếu giáo viên. Với lại, tôi là vợ cựu chiến binh sống ở đây, nên người ta dễ dàng nhận tôi ngay. Thế là tôi qua khoá tu nghiệp và dạy ở trường trung học thị xã vài năm. Nhưng richard không thích tôi phải đi làm việc. Anh ấy bảo anh kiếm đủ sống nên tôi không cần phải đi dạy, nhất là còn hai đứa nhỏ. Vì thế tôi thôi dạy và trở thành nữ trại chủ chuyên nghiệp. Có thế thôi“.
Ông uống gần hết ly trà lạnh, bà rót thêm.
Cám ơn bà. Và bà thích vùng này chứ...
Câu hỏi mở ra một khoảnh khắc của sự thật. Câu trả lời tiêu chuẩn thì phải là: Hoàn toàn. Nơi đây yên tĩnh. Người dân ở đây thật tốt.
Nhưng bà không trả lời ngay. ”Cho tôi một điếu thuốc nữa nhé... “. Lại gói Camel, lại chiếc bật lửa, lại chạm nhẹ tay nhau. ánh mặt trời chiếu xuyên qua hiên nhà, rọi lên trên con chó xù đang ngóc dậy và lững thững lủi mất. Lần đầu tiên Francesca nhìn thẳng vào đôi mắt xanh của Robert Kincaid.
”Tôi muốn trả lời: thích hoàn toàn. Nơi đây yên tĩnh. Người ở đây thật tốt“. Và điều đó cũng đúng thôi. Nơi đây yên tĩnh thật. Và người dân quả thật tốt, theo cách nào đó. Tất cả chúng tôi đều quen biết nhau. Nếu một người bệnh hay bị tai nạn gì, hàng xóm láng giềng sang giúp đỡ ngay, như hái bắp hay gặt lúa hoặc những việc khác cần làm. Đi lên phố, ông cũng chẳng cần đóng cửa xe và để cho tụi nhỏ chạy chơi mà cũng chẳng phải lo ngại gì hết.
Họ có nhiều tính chất tốt và tôi rất kính mến họ. Có điều... Bà ngần ngừ, hít một hơi thuốc và nhìn Robert Kincaid bên kia bà - có điều... đó không phải là những gì tôi mơ ước lúc còn trẻ“. Cuối cùng thì là lời thú nhận. Thật ra lời nói đó đã có sẵn nơi bà từ nhiều năm rồi, chỉ khác là bà không thốt lên thôi. Và bây giờ bà nói điều đó với một người đàn ông sống ở Bellingham, người lái một chiếc xe tải màu xanh lá cây.
Ông trầm ngâm một lúc rồi nói: ”Hôm trước đây tôi có ghi vội vài dòng trong sổ tay, dành sau này có xem lại. Khi tôi lái xe, thường có ý tưởng này ý tưởng nọ. Đại để như thế này: Những giấc mộng cũ xưa là giấc mộng đẹp. Chúng không có thực, nhưng ta hài lòng là đã có những giấc mộng đó. Thật tình tôi cũng không rõ chính xác điều đó có nghĩa gì, nhưng cách này hay cách khác tôi sống với nó. Tôi nghĩ rằng tôi hiểu một phần điều bà nói“.
Francesca cười với ông. Lần đầu tiên, nụ cười bà rạng rỡ và sâu thẳm. Và cái bản năng phụ nữ giúp bà về với thực tại: ”Ông có muốn ở lại ăn tối không... Gia đình tôi đi vắng cả, nên không có thức ăn gì nhiều, nhưng tôi có thể chế biến“.
Chắc rồi, nếu điều đó không quá phiền cho bà. Tôi hết sức vui lòng.
Ông có thích sườn heo không... Để tôi nấu thịt heo với rau cải trồng trong vườn nhé...
Chỉ rau thôi, tôi không ăn thịt, nhiều năm rồi. Đó cũng chẳng phải là chủ trương đường lối gì đâu, nhưng tôi thấy ăn rau thì sức khoẻ tôi tốt hơn.
Francesca lại cười: ”Quan điểm đó của ông ở đây người ta không tán đồng đâu. Richard và các bạn của anh ấy sẽ nói rằng ông cố làm cho họ thất nghiệp đấy nhé. Thật ra thì tôi cũng không ăn nhiề thịt đâu. Tôi cũng chẳng rõ tại sao, nhưng xưa nay vẫn vậy. ở đây cứ mỗi khi tôi thử dọn một bữa ăn toàn rau là cả nhà cứ kêu thét lên. Tôi phải vậy thôi. Bây giờ có dịp thay đổi cách ăn một tý cũng vui“.
Đươc rồi, nhưng bà đừng quá nhọc lòng vì tôi đấy nhé. à, tôi còn sắp xếp mấy cuộn phim và sửa soạn đồ đạc một tý. Tôi phải ra ngoài một lúc. Ông nhổm dậy và nhấp ngụm trà cuối.
Francesca nhìn ông ra khỏi nhà bếp, đi ngang qua hiên và bước ra ngoài cánh đồng. Ông không kéo sập cửa như nhiều người thường làm mà đóng lại một cách nhẹ nhàng. Ngay trước khi ra sân, ông còn cúi xuống vuốt ve con chó lông xù và nó đáp lễ bằng cách liếm tay ông.
Francesca lên lầu tắm vội một cái cho đỡ bức, và trong khi lau mình, bà nhìn xuống sân qua tấm màn nâu và thấy ông đang rửa ráy bằng vòi nước từ một cái bơm tay. Bà đã định bảo ông vào trong nhà mà tắm nhưng rồi lại thôi, nói như thế sợ tỏ ra thân mật quá. Bà triền miên trong những ý tưởng mâu thuẫn, và quên bẵng mất.
Nhưng mà Robert Kincaid thì đã tắm rửa trong những điều kiện tồi tệ hơn thế này nhiều. Ông đã từng tắm giặt bằng những thùng nước hôi rình mùi dầu ở vùng sông Tigre, hoặc với một bi - đông nhỏ xíu giữa sa mạc. Bây giờ, trong sân của trang trại này, ông đang xoay trần ra và lấy một cái sơ mi bẩn vừa dùng làm bao tay để kỳ cọ vừa dùng làm khăn lau. Bà tự nhủ: ”Khăn, ít ra thì mình cũng phải lấy cho ông ta một cái khăn chứ“.
Dao cạo râu thì ông để đại bên cạnh bơm. Francesca nhìn ông xoa xà phòng lên mặt và cạo râu. Bà nghĩ: ”Ông ta... rắn chắc. Ông không cao lớn lắm, chắc chỉ hơn một mét bảy lăm, khá ton, nhưng có đôi vai cuồn cuộn và bụng mảnh như một lưỡi dao. Ông ta có vẻ trẻ hơn tuổi, mà thật ra mình cũng chẳng biết ông bao nhiêu tuổi nữa và chắc chắn ông ta chẳng giống một chút gì với dân xứ này - những người chỉ ăn uống toàn xia - rô với thịt, mỡ hàng ngày“.
Lần đến Des Moines vừa rồi, bà có mua một lọ nước hoa. Bà xức một tý, chút xíu thôi. Mình mặc gì đây... Bà nghĩ không nên mặc gì sang quá bởi ông ta đang mặc đồ làm việc kia mà. Bà lấy ra một chiếc sơ mi trắng tay dài, một cái quần Jean sạch và mang xăng - đan. Một đôi bông tai mạ vàng mà Richard không thích, bảo rằng bà đeo vào trông lẳng quá - và một vòng đeo tay bằng vàng. Bà kéo tóc ngược ra sau, buộc bằng một chiếc kẹp. Thế được rồi.
Khi bà xuống bếp, ông đang loay hoay với mấy chiếc ba lô và cái thùng đá, ông mặc một cái áo kaki sạch dưới đây treo màu cam. Trên bà là ba cái máy ảnh, năm ống kính và một bịch Camel. Tất cả máy ảnh của ông đều hiệu Nikon. Các ống kính đủ cỡ, lớn, trung bình, nhỏ. Đồ đạc của ông xem ra hơi cũ, chợt, méo mó. Tuy vậy ông sờ mó một cách thận trọng. Ông lau chùi, thổi bụi bám trên dụng cụ.
Ông ngước mắt nhìn bà, vẻ nghiêm trang, hơi bẽn lẽn nữa: ”Tôi có bia trong thùng đá. Bà muốn dùng một chai chứ... “.
Vâng, tốt quá.
Ông lấy ra hai chai Budweiser. Khi ông mở nắp thùng, có những chai nhựa trong suốt đựng đầy phim, cùng với bốn chai bia.
Francesca mở ngăn kéo định tìm đồ mở bia nhưng ông nói: ”Tôi có đủ đồ cần dùng“, rồi rút con dao trong bao dắt bên hông ra và mở nắp bia một cách thành thạo. Ông đưa bà một chai và đưa chai của mình lên có vẻ như chúc mừng: ”Cho những chiếc cầu mái che cuối buổi chiều, hay, tốt hơn nữa, cho những buổi sáng đỏ hồng và nóng nực“. Ông cười.
Francesca không đáp lời ông, bà chỉ dịu dàng mỉm cười và đưa nhẹ chai lên, ngập ngừng, vụng về. Một người lạ, bông hoa, mùi hương, bia trong một ngày Thứ hai nóng nực cuối mùa hạ. Chừng đó như hơi quá nhiều.
”Lâu lắm rồi, vào một buổi chiều tháng tám có một người khát nước quá. Người đó tên là gì thây kệ, đã nghiên cứu cơn khát và dùng xảo thuật để sáng chế ra bia. Chuyện xảy ra như thế đó và vấn đề được giải quyết“. Ông sờ mó máy ảnh, như nói với nó, vừa vặn chắc một chiếc vít nhỏ xíu.
”Tôi phải đi ra vườn đã, sẽ trở lại ngay“.
Ông nhướng mắt: ”Bà có cần giúp một tay không... “. Francesca ra dấu không và bước qua trước mặt ông, cảm thấy cặp mắt ông dán chặt lên hông mình. Bà tự hỏi ông có nhìn theo mình khi mình bước ra hiên không. Bà đoán chắc ông phải làm vậy.
Bà đoán đúng. Ông nhìn theo bà. Ông cúi đầu xuống rồi lại ngẩng lên nhìn theo. Ông nhìn thân hình bà, nghĩ đến trí thông minh của bà và tất cả mọi điều khác mà ông nghĩ có nơi bà. Ông bị cuốn hút và ông cố thử cưỡng lại.
Vườn lúc này đã tối, Robert Kincaid đang sắp xếp lại mớ ba lô, một cách cẩn trọng và chính xác. Mỗi thứ đều đúng chỗ. Ông đã uống hết chai bia và mở hai chai khác, mặc dầu Farancessca chưa uống hết chai của mình. Bà bèn ngửa đầu, nốc hết chút bia còn lại và đưa cho ông chai không.
Tôi có thể giúp bà được gì không... Ông hỏi.
Ông lấy giùm trái dứa dưới hiên và một ít khoai để trong thùng gỗ ấy.
Ông chuyển mình đứng dậy một cách nhẹ nhàng. Bà ngạc nhiên thấy trong chớp mắt ông đã trở lại, nách kẹp trái dứa, tay cầm bốn củ khoai. ”Đủ chưa... “
Bà gật đầu, tự hỏi ông ta có thật không. Ông đặt dưa và khoai lên bàn bếp bên cạnh chậu rửa bát, nơi bà đang dầm rau, rồi về ngồi lại chỗ cũ, châm một điếu camel. Bà hỏi, mắt vẫn nhìn xuống mớ rau: ”Ông sẽ ở lại vùng này bao lâu... “.
Tôi cũng chưa biết rõ. Giai đoạn này tôi khá nhàn, ba tuần nữa tôi mới phải đưa bài phóng sự cho báo. Đủ thời gian cần thiết. chắc tôi ở đây một tuần.
Ông ở tại đâu... Trên phố à...
Vâng. Nơi có nhiều phòng cho thuê. Gọi là Motor Court gì đó. Sáng nay tôi vừa đăng ký. Tôi thậm chí cũng chưa kịp mở cửa phòng nữa.
Đó là chỗ duy nhất để trọ ở nơi này, ngoại trừ nơi bà Carlson là chỗ cho thuê dài hạn. Còn quán ăn thì chém dữ lắm, tôi muốn nói, nhất là với một người ăn chay như ông.
Tôi biết. Nhưng tôi xoay xở được. Vào giai đoạn này trong năm thì không khó khăn lắm. Tôi có thể mua đồ tươi nơi các tiệm thực phẩm dọc đường. Bánh mì với một hai thứ khác, thế là đủ. Nhưng được mời kiểu thế này thì thật thích. Tôi thú vị lắm.
Bà chùm hum lên bàn bếp và đưa tay vặn chiếc máy thu thanh nhỏ chỉ có hai nút. Từ máy vọng ra tiếng hát có đệm đàn ghi ta. ”với thời gian trong túi và thời tiết bên cạnh... “. Francesca vặn nút cho âm thanh nhỏ lại.
Ông đề nghị: ”Tôi cũng khá khéo tay để xắt rau đấy“.
Được thôi, thớt kia kìa và có một con dao trong ngăn ngay phía dưới đấy. Còn tôi thì hầm rau quả, rồi sẽ xắt nhỏ.
Ông tiến lại gần, nhìn xuống, cắt, thái cà rốt và củ cải, hành. Francesca gọt khoai, cảm thấy lần đầu tiên bà ở sát một người lạ đến như vậy.
Ông có chơi đàn ghi - ta à... Tôi thấy cây đàn trong thùng xe.
Sơ sơ thôi. Chỉ biết đệm, không hơn. Vợ tôi trước đây là một trong những ca sĩ dân ca hạng nhất, trước khi nó trở thành thời trang. Chính bà ta đã khuyến khích tôi chơi ghi ta.
Francesca cảm thấy hơi cứng người khi nghe thấy tiếng ”vợ tôi“. Tại sao, bà cũng chả biết. Thì ông ta có quyền lập gia đình chứ. Nhưng điều đó xem ra không giống phong cách ông. Bà không muốn ông có gia đình.
Bà ta không chịu nổi những năm tháng dài tôi vắng nhà biền biệt. Chính tôi cũng không muốn bà phải chịu như vậy. Cách đây chín năm bà bỏ đi. Một năm sau thì ly dị. Chúng tôi không có con, cho nên cũng không phức tạp lắm. Bà để cây đàn lại cho tôi.
Từ đó ông có tin tức gì về bà ta không...
Không, không bao giờ.
Ông không nói thêm, Francesca cũng không nài. Tự nhiên bà cảm thấy dễ chịu hơn và một lần nữa bà tự hỏi mình tại sao lại như vậy.
Tôi cũng có đến ý hai lần. Trước đây bà ở đâu...
Napoli.
Tôi không muốn biết thành phố đó. Một lần tôi đến miền Bắc để làm phóng sự về cảnh dọc sông Pô. Rồ lần thứ hai thì đến Sicily.
Francesca tiếp tục gọt khoai. Trong khoảnh khắc bà chợt nghĩ đến nước ý. Đồng thời bà cũng thấy rất rõ sự hiện diện của Robert Kincaid sau lưng mình.
Mây phủ trắng khắp phía Tây, toả những tia sáng cuối cùng của mặt trời ra khắp mọi hướng. Ông quan sát qua khung cửa sổ phía trên bồn rửa chén, nói: ”ánh sáng rất dệp. Mấy người in lịch hẳn thích lắm. Cả các tạp chí tôn giáo nữa“.
Công việc ông có vẻ thích nhỉ...
Bà muốn cho cuộc đối thoại của họ ở trạng thái vô thưởng vô phạt.
”Quả vậy. Tôi yêu thích nghề này vô cùng. Tôi thích đi và thực hiện các tấm ảnh“.
Bà để ý thấy ông dùng từ ”thực hiện“ tấm ảnh.
Ông thực hiện các tấm ảnh, chứ ông không chụp sao...
Đúng vậy. Tôi nhìn vấn đề như thế này đây: Có sự khác biệt rất lớn giữa những nhà nhiếp ảnh nghiệp dư và người làm việc này như là một nghề nghiệp. Khi tôi hoàn tất ảnh về cây cầu mà bà thấy hồi chiều, sẽ hoàn toàn không có vẻ gì như điều bà có thể nghĩ. Tôi tạo ra một cái gì đó cho tôi, bằng cách chọn ống kính, bằng góc nhìn hay bằng bố cục của bức ảnh, hay có lẽ bằng sự kết hợp của tất cả các yếu tố đó lại. Tôi không nghĩ rằng chủ đề chỉ là một dữ kiện có sẵn, cho nên tôi cố gắng tạo ra một cái gì phản ánh chính ý tưởng tôi, tâm hồn tôi. Tôi cố tìm tính chất thơ trong hình ảnh. Cái tạp chí mà tôi cộng tác thì có phong cách cũng như yêu cầu của họ, mà tôi thì không phải luôn luôn đồng ý với quan niệm và sở thích của ông tổng biên tập;, nói thật thì chúng tôi thường bất đồng ý kiến với nhau. Điều đó làm khó cho họ, cả khi chính họ là kẻ quyết định việc chọn ảnh. Tôi cho là họ kiểu công chúng của họ hơn tôi, thế nhưng tôi thích họ đôi khi cũng phải liều một chút. Tôi nói thế với họ và họ rất bực.
Và đó chính là vấn đề của một kẻ chọn nghệ thuật làm nghề sinh nhai. Bà phải phụ thuộc vào thị trường, vào đám đông, mà thị trường nhằm thoả mãn sở thích bằng phương tiện công cộng. Và ở đó có vấn đề tiền bạc. Đó là một thực tế. Nhưng, như tôi nói với bà, điều đó có thể làm mình ngột ngạt.
May mà tôi có quyền giữ lại những bức ảnh họ không sử dụng, cho nên ít ra thì tôi cũng giữ được một kho tư liệu riêng về những điều mà tôi yêu thích.
Rồi, dần dà, có tạp chí chọn một hai bức ảnh trong số đó, hoặc có khi tôi viết bài về vùng nọ và minh hoạ bằng những bức ảnh táo bạo hơn những thứ mà tờ National Geographic đã chọn.
Có lẽ một ngày nào đó, tôi sẽ viết một tiểu luận có tên là "Đạo đức của những người nghiệp dư" cho tất cả những ai thích kiếm sống bằng cách làm nghệ thuật. Hơn tất cả, thị trường giết chết niềm đam mê nghệt thuật. Phần lớn con người sống trong một thế giới an toàn, đó là điều họ muốn. Các tạp chí và các hãng quảng cáo họ muốn. Các tạp chí và các hãng quảng cáo cho họ sự an toàn, một cảm giác đồng điệu, những thói quen và sự tiện nghi và họ không còn đặt chúng thành vấn đề nữa.
Lợi nhuận, tên tuổi, những thứ đó đang ngự trị thế giới nghệ thuật. Và tất cả chúng ta đều bị ép khuôn bởi cái bánh xe vĩ đại của sự đồng nhất.
Các chuyên viên tiếp thị luôn luôn mở mồm về cái mà họ gọi là "người tiêu thụ". Tôi muốn vẽ ra hình ảnh một con người nhỏ con bụng bự, đội mũ rơm rộng vành, áo sơ mi chim cò, quần sọt rộng thùng thình, tay nắm một nắm đô la.
Francesca mỉm cười dịu dàng và nghĩ đến sư an toàn, sự tiện nghi.
"Nói thế không phải là tôi phàn nàn về nghề mình lắm đâu. Tôi thích du lịch và đùa với máy ảnh của mình, thích ở ngoài trời. Dẫu sao thế cũng dễ chịu lắm". Francesca nghĩ rằng, đồi với Kincaid, cuộc nói chuyện này nhàm chán. Đối với bà, đó là văn học. Người ở quận này thì không nói kiểu như thế này đâu. Họ nói về thời tiết, về giá cả, về những đứa trẻ vừa sinh, về đám tang, về kế hoạch của chính phủ và về các đội bóng, chứ không về nghệ thuật hay giấc mơ. Không nói về cái thực tại làm nghẹn tắc âm nhạc và làm tù hãm những giấc mơ.
Ông đã thái xong mớ rau quả. "Tôi cần làm gì khác nữa không... "
Bà lắc đầu: "Không, để tôi lo được rồi".
Ông lại ngồi nơi bàn, hút thuốc và nhấm nháp bia. Bà lo làm bếp và chốc chốc cũng nhấp một ngụm. Bà có thể cảm thấy hình ảnh hưởng chất bia trong người, mặc dầu bà chỉ uống một vài ly bia với Richard, ngoài ra hầu như không bao giờ. Trong nhà ít khi có rượu, ngoại trừ bà mua ngày nọ với hy vọng mơ hồ là tạo một sinh khí cho cuộc sống đơn điệu của họ nông thôn. Chai rượu chưa bao giờ khui.
Trộn dầu. Thêm rau. Nấu chín. Đánh xốt rồi trộn dầu. Thêm nửa lít nước. Trộn lại rau và nếm. Cho lửa riu riu chừng 40 phút.
Bà qua bàn ngồi đối diện với Robert Kincaid. ở hai người đã có vẻ thân mật ngấm ngầm do viêc chuẩn bị bữa ăn. Bởi khi nấu ăn đãi một người xa lạ, mà người xa lạ đó ngồi sát bên cạnh mình thái rau giúp, thì sự xa lạ đã mất đi một phần. Vẻ xa lạ, mất đi, nhường chỗ cho một không khí thân mật gần gũi.
Ông đẩy gói thuốc và bật lửa về phía Francesca. Bà lấy một điếu, vụng về bật quẹt mãi không được. Ông mỉm cười, nhẹ lấy bật lửa nơi tay bà, đưa tay đè viên đá hai ba lần rồi mới bật và đưa cho bà châm.
Mặt trời trắng biến thành đỏ thẫm đang khuất dần xuống ruộng ngô. Từ cửa sổ nhà bếp nhìn ra, Francesca có thể thấy một cánh diều lướt theo gió trong ánh hoàng hôn. Đài phát thanh đưa bản tin bảy giờ. Qua chiếc bàn mica vàng, Francesca đưa mắt nhìn Robert Kincaid, người vừa vượt qua một cuộc hành trình dài gần xuyên ngang nước Mỹ để đến ngồi trong bếp nhà bà. Biết bao dặm đường.
Ông đưa tay chỉ bếp lò: "Xem ra được rồi đấy. Bốc lên mùi... yên tĩnh". Ông nói và nhìn bà.
"Yên tĩnh... Cái gì có mùi yên tĩnh..." Francesca tự hỏi. Ông nói đúng. Sau bao năm tháng nấu nướng thịt sườn, thịt bít - tết, rô - ti... lần này quả thật là một lần nấu ăn... trầm lặng. Nơi những món thực phẩm này không thể hàm chứa một ý nghĩa sát sanh nào. Món ăn chín sôi một cách thanh bình và bốc lên mùi thanh bình, trong bếp ăn thanh bình.
Ông hơi dựa lui vào ghế, bắc chéo chân. "Nếu bà không thấy chán, bà hãy kể cho tôi nghe ít điều về cuộc sống ngày trước ở bên ý"
Thế là bà nói, cũng bởi sự im lặng làm bà bối rối. Bà kể thời thơ ấu, các trường tư thục, các bà xơ, cha mẹ bà - một người đàn bà nội trợ và một ông giám đốc nhà băng - về những buổi bà đứng ngẩn ngơ trước biển ở tuổi dậy thì, nhìn những con tàu đến từ khắp nơi trên thế giới. Những chàng lính Mỹ đến ý sau đó. Việc bà gặp gỡ Richard trong một quán nước khi bà đang cùng bạn bè uống cà phê, đang bàn về tương lai, về cuộc sống bị đảo lộn do chiến tranh. Bà không nhắc đến Nicolo.
Ông lặng lẽ nghe, thỉnh thoảng gật đầu đồng tình. Khi bà ngừng kể, ông thêm:
"Bà nói và có mấy đứa con... "
- Vâng. Michael thì mười bảy, Carolyn mười sáu. Cả hai đều học phổ thông ở Winterset. Chúng có tham gia vào một câu lạc bộ, vì thế vừa rồi chúng đi dự hội chợ ở Illinois. Họ đấu xảo chú bò con của Carolyn.
Đó cũng là một điều tôi không bao giờ làm, cũng không bao giờ hiểu nổi là người ta hết sức yêu thương, hết sức chăm sóc gia súc để rồi đem bán cho lò mổ. Tôi không hề nói ra ý kiến này đâu. Bởi nếu tôi nói ra, Richard cũng như những người chung quanh sẽ gạt đi tức khắc. Nhưng tôi cảm thấy như có một cái gì mâu thuẫn, lạnh lùng, tàn nhẫn trong đó.
Bà cảm thấy có tội khi nhắc đến tên Richard.
Bà cũng chẳng nói gì, làm gì xúc phạm. Có điều bà vẫn cảm thấy tội lỗi, một mặc cảm tội lỗi phát sinh từ những lý do mơ hồ. Bà tự hỏi làm thế nào mà bà hướng cuộc nói chuyện về điểm đó, hay có lẽ chính bà lao vào cái điểm mà bà cũng hiểu rõ. Robert Kincaid vẫn điềm nhiên, lặng lẽ, có vẻ dè dặt nữa.
Trong lúc họ nói chuyện, nhiều chuyện, chiều chuyển thành xanh biếc và sương mù phủ nhẹ xuống cánh đồng bên ngoài. Ông mở thêm hai chai bia trong khi món ăn của Francesca đang sôi lặng lẽ. Bà đứng dậy, bỏ thêm vào nồi một vài thứ gia vị rồi quay người tựa vào bếp nhìn lại ông. Lòng bà dâng lên một mối đồng cảm với Robert Kincaid, ở Bellinghan trong Washington. Hy vọng ông không bỏ đi quá sớm.
Ông tự múc thức ăn hai lần một cách thích thú và lập lại hai lần rằng thức ăn tuyệt ngon. Bia thì mát lạnh. Buổi chiều thì xanh biếc. Francesca bốn mươi lăm tuổi và Hank Snow hát một bài hát đường trường trên đài phát thanh Iowa
Những chiếc cầu ở quận Madison
Robert James Waller
Những chiều xưa tiếng nhạc xa vời
"Bây giờ thì sao nhỉ... ". Francesca thầm nghĩ, khi bữa ăn chấm dứt.
Ông đề nghị: "Chúng ta ra ngoài đồng đi dạo một lát nhé... Ngoài đó chắc trời mát hơn". Khi bà đồng ý, ông mở ba lô lấy chiếc máy ảnh ra khoác quai vào vai.
Kincaid đẩy cửa và giữ cho Francesca bước ra rồi theo sau, khép cửa lại nhẹ nhàng. Họ bước xuống bậc thềm loang lổ, quan sân rải đá rồi dẫm lên cỏ, về phía Đông của xưởng để máy móc. Xưởng bốc lên mùi dầu.
Họ tiến đến hàng rào, Francesca đưa một tay kéo dây kẽm gai rồi bước qua, thấy sương ướt đẫm chân qua đôi xăng đan. Ông cũng làm theo, nhẹ nhàng bước qua hàng kẽm gai.
Mặt trăng gần tròn đầy nhô lên phía Đông bầu trời đang chuyển màu xanh thẫm, mặt trời lặn xuống ngang với đường chân trời. Nơi con đường phía dưới họ, một chiếc xe chạy qua, bóp còi chát tai. Cậu con trai Clark ở Winterset, bồ của Judy Leverson.
Từ lâu rồi, bà không hề đi dạo như thế này. Thường sau bữa ăn tối, luôn luôn vào lúc năm giờ chiều, có bản tin trên ti vi rồi chương trình buổi tối mà Richard xem, đôi khi với hai đứa con khi chúng xong bài tập. Francesca thì đọc sách trong nhà bếp - mượn của thư viện hoặc câu lạc bộ bà tham gia - sách lịch sử, thi ca đọc sách dưới hiên. Bà ghét xem ti vi. Có khi Richard từ trong nhà gọi vọng ra: "Frannie, vào xem này, hay lắm! " thì bà mới ra ngồi cạnh chồng một lúc. Elvis bao giờ cũng trình diễn một kiểu ồn ào như nhau. Nhóm Beatles cũng vậy, khi họ xuất hiện lần đầu trên chương trình của Ed Sullivan - Richard nhìn mái tóc dài bù xù của họ, lúc lắc ra vẻ không tán đồng và thiếu tin cậy.
Trong một thoáng những đường đỏ ối của ánh hoàng hôn vạch trên bầu trời. Robert Kincaid vừa đưa tay chỉ vừa bảo: "Tôi thường gọi đó là "phản quang". Phần lớn người ta giơ ngay máy ảnh lên chụp, thường lúc đó màu và ánh sáng rất đẹp, khi mặt trời vừa lặn xuống sau chân trời và ánh sáng còn phản chiếu lên bầu trời".
Francesca không trả lời, bà tự hỏi về con người say sưa với màu sắc của bầu trời, người có làm thơ chút ít và viết tiểu thuyết chút ít. Người chơi đàn ghi ta tài tử, người kiếm sống bằng chụp ảnh và mang dụng cụ nghề nghiệp nơi ba lô đeo lưng, đi khắp các nẻo đường. Người giống như gió. Lung lay như gió. Và có lẽ sẽ trở về với gió.
Ông thọc tay vào túi quần, mắt hướng về bầu trời, máy ảnh lắc lư bên hông trái. "Mặt trăng như những trái táo bạc, mặt trời như những trái táo vàng". Giọng ông trầm, đọc ra những lời trên như một diễn viên chuyên nghiệp.
Francesca nhướng mắt nhìn ông: "W. B. Yeats. Bài ca về Aengus, kẻ lạc loài".
- Đúng. Một thi sĩ tuyệt vời, Yeats ấy. Hiện thực, tiết kiệm nhục cảm, cái đẹp quỷ thuật. Tất cả cái đó nói lên nguồn gốc ái nhĩ lan của tôi".
Ông đã nói lên tất cả, chỉ trong năm từ. Francesca đã từng tốn công vô ích khi đem thơ Yeats cố giải thích cho học trò mình ở Winterset hiểu, nhưng không bao giờ thuyết phục được họ. Bà chọn Yeats cũng vì những lý do mà Robert Kincaid vừa chỉ ra. Học sinh xứ này có thành kiến nặng nề với thi ca và ngay cả Yeats cũng không vượt qua được. Bà còn nhớ khi bà đọc câu thơ "mặt trời như những quả táo vàng" thì cái cậu Mathew Clark đưa mắt liếc qua cậu bạn bên cạnh, đưa tay vạch một đường cong chỉ đôi vú đàn bà. Cả bọn con trai cười ồ còn bọn con gái thì đỏ mặt.
Người ở đáy sống bằng một thái độ thực dụng như vậy. Bà thấy điều đó và bà nản lòng vì cảm thấy mình tổn thương và cô độc, mặc dầu rõ ràng họ biểu lộ một tình bạn rõ rệt với bà. ở đây người ta không ưa thích thi ca. Để chống lại cái mặc cảm tự ti về văn hoá, người dân ở đây thường nói: "Đây là một nơi rất tốt để giáo dục con cái". Những lúc đó bà rất muốn đáp lời họ: "Nhưng đây phải là nơi thích hợp để giáo dục người trưởng thành không... "
Họ đi dọc theo cánh đồng hàng trăm mét mà không hay, rồi đi vòng lững thững hướng về nhà. Bóng tối đã phủ kín đầy khi họ đến hàng rào. Lần này, ông kéo dây kẽm gai cho bà bước qua. Bà chợt nhớ tới chai brandy: "Tôi còn chai rượu.
Hay là ông muốn uống cà phê... "...
"Thế muốn cả hai được không... "
Lời ông thốt ra trong bóng tối. Bà biết ông đang mỉm cười.
Bà trả lời: "Được quá đi chứ", khi họ bước vào vùng ánh sáng từ hiên chiếu xuống bãi cỏ và sân rải đá. Bà nghe thấy trong tiếng nói của chính mình có có một cái gì đó làm bà bồn chồn. đó là âm hưởng của tiếng cười dòn tan trong các quán cà phê ở Napoli thuở nào.
Tìm cho ra hai chiếc tách nguyên lành không phải dễ. Và bà biết rằng cuộc đời của Robert Kincaid gắn liền với ly tách sứt mẻ, nứt rạn, nên bà muốn dịp này phải uống cho đàng hoàng. Bà có hai cái ly để uống rượu brandy, để trên chót tủ, chưa hề dùng đến bao giờ. Bà nhón gót với lấy và thấy đôi dép ướt đẫm dưới chân mình, ống quần jean xiết chặt lấy đùi.
Ông ngồi lại nơi chiếc ghế ngồi nãy giờ và lặng lẽ ngắm bà. Phong cách của tổ tông. Phong cách của tổ tông cũng hiện hình nơi ông. Ông thầm hỏi mình sẽ cảm thấy thế nào khi chạm vào tóc bà, khi vuốt ve cái lưng thon thả của bà, khi thân thể bà nằm duỗi cạnh ông.
Phong cách tổ tông trỗi dậy chống lại tất cả những gì con người được dạy bảo, những điều in sâu vào trí óc qua nhiều thế kỷ văn hoá, nhiều quy luật chặt chẽ dành cho con người văn minh. Ông cố gắng cưỡng lại bừgn cách nghĩ đến điều khác, về các tấm ảnh, về chuyến đi, về chiếc cầu có mái che. Nghĩ đến tất cả ngoại trừ người đàn bà mà ông đang ngắm nhìn. Nhưng không gạt bỏ được, và lại tự hỏi thầm mình sẽ cảm thấy gì khi chạm vào làn da bà, khi áp bụng bà vào bụng mình. Những câu hỏi của muôn đời. Bản năng quỷ quái của tổ tông đàn tìm cách trỗi dậy, đang vùng dậy.
Ông cố đẩy ra xa, gạt bỏ, châm một điếu Camel và thở mạnh.
Bà cảm thấy đôi mắt ông luôn dán vào bà tuy rằng ông nhìn một cách kín đáo, không lộ liễu. Bà cũng biết ông hiểu rằng trước đây bà chưa hề rót chai brandy ra ly. Và bà thấy nơi ông, ngoài cái chất buồn rất ái Nhĩ Lan, còn có một thoáng xúc cảm, không phải thương hại. Loại tình cảm đó không thích hợp với ông. Có lẽ u hoài thì đúng hơn. Bà gần như nghe thấy những từ ông sắp lại thành lời:
Chai rượu đầy,
nhưng ly rỗng,
Nàng với tay lấy những chiếc ly rỗng không.
Đâu đó nơi phía Bắc dòng sông Middle ỏ Iowa
Tôi lặng ngắm nàng bằng cặp mắt
của những người đã từng thấy vùng Amazone của những Jivaros
Và con đường tơ lụa
Bụi của đoàn lữ hành quấn lấy chân tôi
Chạm vào không gian trinh nguyên
nơi bầu trời châu á
Khi lột nhãn ghi dấu Iowa trên nút chai rượu brandy, Francesca nhìn ngón tay mình và ước chi ngón tay mình dài, thon và được chăm sóc tử tế hơn. Cuộc sống nông trại đâu có cho phép bà để móng tay dài. Và thật ra, điều này trước đến tối nay, không có gì quan trọng đối với bà.
Rượu Brandy, hai chiếc ly đặt trên bàn. Trong khi bà pha cà phê, ông mở nút chai và rót một lượng chính xác vào ly. Ông thường có thói quen uống brandy sau bữa ăn tối.
Francesca tự hỏi người đàn ông xa lạ này đã từng sống ở bao nhiêu bếp, bao nhiêu quán ăn, bao nhiêu phòng ăn dưới ánh sáng mờ. Bao nhiêu ngón tay phụ nữ thon dài cầm ly đưa lên trước mặt ông, bao nhiêu cặp mắt xanh biếc hoặc đen láy như hột hồ đào ông đã nhìn từ các buổi dạ tiệc ở các xứ lạ, khi những chiếc tàu đánh cá lắc lư theo sóng biển, khi sóng đập vào bờ đá mốc thiu nơi hải cảng già nua...
ánh sáng ngọn đèn trần quá chói không thích hợp để uống cà phê và brandy. Francesca Johnson, vợ của Richard Johnson, người vừa đi dạo một vòng trên cỏ ướt lúc chạng vạng, người lần giở lại giấc mộng của một thời con gái, vẫn để nguyên ánh đèn. Thắp một cây nến thì lý tưởng đấy, nhưng bà sợ là thế thì đi quá xa, có thể làm ông hiểu lầm. Bà đành bật ngọn đèn trên bệ bếp rồi tắt ngọn đèn trần. Tuy chưa thật hoàn hảo, nhưng thế này cũng đã hơn nhiều.
Ông đưa ly rượu lên trước mặt Francesca, hơi chạm nhẹ vào ly bà: ”Chúc cho những buổi chiều xưa, cho những tiếng nhạc xa vời“, bà chỉ mỉm cười.
Cả hai lặng lẽ hút thuốc, không nói một lời, lặng lẽ nhấp cà phê, nhấp rượu brandy. Tiếng một con chim từ ngoài đồng. Jack, chú chó xù, sủa lên hai lần. Đàn muỗi lùa vào từ cửa sổ và một con bướm đêm đơn độc bằng bản năng chính xác, cũng bay vào dự cuộc chơi dưới làn ánh sáng của ngọn đèn bếp.
Trời vẫn nóng, không một làn gió nhẹ, hơi ẩm ướt nữa. Robert Kincaid nhẹ toát mồ hôi, ông đã mở hết cúc trên áo sơ mi. Ông không quan sát Francesca, nhưng bà vẫn cảm thấy đang ở trong tầm nhìn của ông, kể cả khi ông ngó ra cửa sổ. Bà nhìn thấy ngực ông qua làn áo sơ mi, bà thấy cả những giọt mồ hôi loang lổ trên làn da ông.
Francesca đắm mình trong một cảm giác dễ chịu, những cảm giác của thi ca và âm nhạc. Dẫu vậy, cũng đã đến giờ ông ta phải về rồi, bà tự nhủ. Chín giờ năm hai phút, chiếc đồng hồ treo phía trên tủ lạnh đã nhắc nhở. Faron Young đang hát trong radio. Một bài hát cũ đã nhiều năm, bài ”Di tích của Thánh Cécile“. Đó là người nữ tu thuẫn giáo ở thế kỷ thứ ba, Francesca thầm nhớ. Bà thánh bảo trợ của âm nhạc và kẻ mù loà.
Ly của ông đã cạn. Lúc ông quay nhìn ra cửa sổ, Francesca cầm cổ chai brandy định rót thêm cho ông. Ông lắc đầu ra dấu thôi. ”Chiếc cầu Roseman đang đợi tôi sáng sớm mai. Tôi phải về thôi“.
Bà cảm thấy nhẹ nhõm. Cùng một lúc thất vọng. Bà vẫy vùng trong một mớ tình cảm mâu thuẫn. ừ thì về, nếu ông muốn. Uống thêm ly brandy nữa đi. Hãy ở lại. Mặc cho bà đang bối rối, Faron Young vẫn cứ tiếp tục hát. Con bướm đêm lạc loài cũng không còn đậu nơi chạn rửa bát. Bà không biết chắc Robert Kincaid đang nghĩ gì nữa.
Ông đứng dậy, khoác ba lô lên vai trái, chiếc ba lô thứ hai thì đặt lên trên thùng đá. Bà đi vòng qua bàn. Ông bắt tay bà, bà xiết chặt. ”Cám ơn bà về buổi tối, về bữa ăn, về cuộc đi dạo. Tất cả đều hoàn hảo. Bà là một người tuyệt vời, Francesca. Nên cất chai brandy vào tủ đi. Có lẽ chừng đó là cũng đủ say rồi đó“.
Vậy là, ông ta hiểu. Nhưng bà không thấy tổn thương vì lời nói đó. Ông nói một cách thơ mộng, đầy thiện chí. Vẻ dịu dàng trong giọng nói, cách ông cất lời chứng tỏ điều đó. Điều mà bà không hề biết, chính là ông đang muốn gào lên với bốn bức tường của nhà bếp: ”Trời đất ơi, Richard Johnson, mày ngốc đến thế à... “.
Bà theo ra đứng cạnh ông khi ông thu xếp đồ đạc lên xe. Chú chó xù băng qua sân, chạy đến ngửi ngửi. ”Jack, lại đây“. Bà gọi nhỏ, nhưng giọng cương quyết khiến Jack chạy ngay lại nằm xuống dưới chân, lưỡi thè dài.
”Tạm biệt. Giữ gìn sức khoẻ“. Ông nói, dừng lại một lúc trước chiếc xe, nhìn thẳng vào mắt bà. Rồi ông leo lên xe và đóng cửa. Ông mở khoá cái động cơ già cỗi, đè cần số và nổ máy một cách khó khăn. Ông chồm ra cửa xe cười: ”Xem ra chiếc xe này cần phải tân trang lại mới được“.
Ông chuyển cần số, cho xe lùi vài mét rồi tăng ga chạy qua sân nhà đầy ánh sáng để đi vào bóng tối của ngõ hẹp. Đúng lúc xe ông sắp khuất vào bóng tối, ông đưa bàn tay trái ra khỏi cửa vẫy chào Francesca. Bà vẫy lại, dầu biết chắc là ông không thể thấy bà.
Khi chiếc xe tải bắt đầu đổ xuống lối dốc, bà chạy vụt theo xe một khoảng, rồi, đừng lại trong bóng tối, nhìn theo ánh đèn sau cửa xe nhấp nhô lên xuống trên con đường gồ ghề. Robert Kincaid rẽ trái vào lộ chính hướng về Vinterset, trong khi một ánh chớp đỏ léo lên xé rách bầu trời mùa hạ và chú chó xồm Jack nằm ngủ lại dưới hiên nhà.
Sau khi ông ra về, Francesca vào đứng trước tấm gương nơi phòng giấy, trần truồng. Hông bà hơi lớn một tý vì sinh nở, nhưng ngực bà vẫn luôn luôn đẹp và săn, không lớn lắm mà cũng không quá nhỏ. Bụng bà đầy đặn. Bà không thể thấy cặp chân mình trong gương nhưng bà biết chân mình còn được lắm. Đúng ra phải xoa bóp chân thường xuyên, nhưng xưa nay đâu có lý do gì để lo việc đó. Richard ít khi lưu tâm đến vấn đề tính dục, đôi ba tháng ông mới gần bà một lần. Ông làm tình một cách vội vã, sơ sài, cho xong bổn phận. Ông cũng chẳng hề quan tâm đến mùi hương, đến chân cẳng bà hay những gì đại loại như vậy.
Đối với ông, bà như chỉ là một người cộng sự trong công việc đồng áng. Một phần nơi con người bà cũng chấp nhận điều ấy. Nhưng tận cùng, còn có một con người khác, một con người muốn tắm, muốn xức nước hoa... một con người muốn được yêu, muốn được bồng bế, muốn được xiết chặt bởi một sức mạnh mà bà cảm thấy, dẫu bà không hề nói ra, cả vào những lúc thích hợp nhất.
Francesca mặc quần áo vào và ngồi xuống bàn, lấy bút viết lên một tờ giấy trắng nhỏ. Jack theo bà ra chiếc xe Ford, nhả lên phía sau khi bà mở cửa xe. Nó leo ra hàng ghế trước, chuối đầu ra ngoài cửa xe khi bà de xe ra khỏi nhà xe, vừa lái vừa ngoái đầu lui. Rồi, đăm đăm nhìn qua kính chắn gió, bà cho xe xuống ngõ và rẽ phải về đường lớn. Cây cầu Roseman chìm trong bóng tối. Jack chạy sục sạo đánh hơi trong khi bà lấy ra cây đèn bấm. Bà móc tờ giấy nhắn lên phía trái lối vào cầu rồi lên xe trở về nhà.
Những chiếc cầu của những ngày thứ ba
Ngồi nơi tay lái chiếc xe tải con, Robert Kincaid đi ngang qua hộp thư trước nhà Richard Johnson một giờ trước khi mặt trời mọc. Ông kẹp ly cà phê giữa hai đùi cho khỏi đổ. Ông kẹp ly cà phê giữa hai đùi cho khỏi đổ. Ông đưa mắt nhìn ngôi nhà trắng dưới ánh sáng nhạt của mặt trăng sắp tàn và gật gù nghĩ đến sự ngu xuẩn của con người, của một số người, của phần lớn con người. ít ra họ cũng có thể uống brandy và đừng đóng sầm cửa lại khi đi ra chứ.
Francesca nghe thấy tiếng máy xe. Bà đang nằm duỗi trên giường. Bà tưởng tượng Robert Kincaid, tóc bay theo gió, tay nắm vô lăng, tay kia kẹp điếu Camel.
Bà lắng nghe tiếng máy xe trên con đường đá về phía cầu Roseman.
Ông đậu xe khá xa cầu Roseman để tránh chiếc xe khỏi vướng vào tấm chụp. Ông lấy sau xe ra một đôi ủng thường ra và mang đôi bằng cao su vào. Đeo ba lô vào lưng, giá ảnh có dây móc vào vai trái, tay phải thì cầm chiếc ba lô thứ hai, ông theo lối dốc gồ ghề xuống dòng sông.
Chiến thuật của ông là chụp cây cầu từ một góc độ thế nào để tạo ra tính chặt chẽ của bố cục, bằng cách lấy thêm một phần con sông và tránh lấy những hình vẽ bậy trên tường nơi lối vào cầu. Những sợi dây điện thoại phía sau cũng là một vấn đề, nhưng ông vẫn có thể giải quyết được nếu khéo xử lý.
Ông lấy chiếc máy Nikon ra, lắp một cuộn phim Kodachrome rồi gắn máy ảnh lên giá. Ông thay ống kính 24 li bằng ống kính 105 li ông ưa chuộng hơn. Phía Đông, một làn ánh sáng xám dâng lên, ông bắt đầu tìm bố cục. Dịch chân giá ảnh một mét về phía trái, giữ thăng bằng cho cái giá nặng cắm trên đất bùn. Giữ dây treo máy ảnh cuộn nơi cổ tay trái, đó là một thói quen ông luôn làm khi chụp ảnh gần bờ nước, nhằm đề phòng giá có đổ thì cũng không hư máy ảnh.
Vầng đỏ ối đã xuất hiện, bầu trời sáng ra. Hạ thấp máy ảnh xuống 10 phân, điều chỉnh lại giá. Chưa được. Năm mươi phân nữa về phía trái. Lại điều chỉnh giá. Xoay máy ảnh trên giá. Vặn ống kính vào cỡ f/8. Ước lượng chiều sâu của cánh đồng, lấy cự ly, gắn chốt mềm lên nút tháo. Mặt trời lên 40 phần trăm so với đường chân trời, màu sơn cũ của chiếc cầu chuyển thành mầu nâu thẫm, đúng như ý ông muốn.
Vào lúc ông sắp sửa bấm nút, một vật gì đó thu hút sự chú ý của ông. Ông nhìn kỹ qua ống ngắm. ”Có cái gì móc nơi thành cầu vậy nhỉ... “ - Ông lẩm bẩm“ - Hôm qua mình đâu có thấy“.
Canh lại giá đỡ. Chạy dọc theo bờ sông, trong khi mặt trời mọc lên sáng rực sau lưng. Một mảnh giấy găm cẩn thận nơi thành cầu. Nhắc mảnh giấy ra, bỏ cả giấy lẫn đinh ghim vào túi. Trở lại bờ sông, xuống dốc, lại đến sau máy ảnh. Mặt trời đã lên 60 phần trăm.
Hổn hà hổn hển vì chạy một quãng dài. Chụp một tấm khác. Lặp lại hai lần cho chắc. Không một ngọn gió. Cỏ bất động. Chụp ba tấm độ dài ba giây và hai tấm một giây rưỡi cho chắc ăn.
Vặn ống kính vào cỡ f/16. Lặp lại toàn bộ tiến trình. Xách giá ảnh ra giữa sông. Cắm giá xuống, bùn quậy lên đục ngầu. Chụp lại toàn cảnh. Lắp một cuộn phim khác. Thay ống kính. Gắn ống 24 li, nhét ống 105 vào túi. Lội ngược nước, tiến lại gần cầu. Lấy lại tầm ngắm, chỉnh lại ánh sáng. Lại bấm máy.
Để máy nằm dọc, làm lại bố cục. Anh mới nhưng vẫn phương pháp cũ. Không có một điều gì lệch lạc trong từng cử động. Mọi cử động đều đã từng lặp lại hàng trăm lần, mọi cử động đều có lý do. Tất cả đều được tính toán một cách hiệu quả và chuyên nghiệp. Lại bước lên bờ, qua cầu, mang dụng cụ chạy đua với mặt trời. Nhắm vào những phần khó nuốt nhất. Lấy máy thứ hai với cuộn phim chụp nhanh ra, quàng cả hai máy vào cổ, leo lên ngọn cây phía sau chiếc cầu. Tay bám vào cành cây, càu nhàu luôn miệng. Lên đến ngọn rồi, chọn một góc độ để chụp cả chiếc cầu, nơi mà dòng sông và ánh sáng đan vào nhau. Chụp riêng mái cầu, chụp toàn cây cầu... chụp luôn chín ”pô“. Thay máy. Chụp tốc độ nhanh. Thêm mười hai tấm nữa.
Leo xuống cây. Xuống bờ sông. Lại cắm giá, lắp phim, lấy cảnh nhưng lần này ở phía bên kia cây cầu. Lấy máy thứ ba ra, một máy SP cũ. Bây giờ chụp đen trắng. ánh sáng trên cầu thay đổi từng giây.
Sau hai mươi phút làm việc bằng sự tập trung cao độ mà chỉ người lính, người y sĩ giải phẫu hoặc nhiếp ảnh gia mới hiểu được, Robert Kincaid mới bỏ các ba lô vào xe, lái xe ngược lại con đường đi đến cầu Roseman. Cầu Hogback còn cách độ 15 phút và ông có thể đến đó chụp một số ảnh. Bụi bay mù. Ông châm một điếu thuốc. Xe chạy qua ngôi nhà bằng gỗ quay về phía Bắc, qua trước hộp thư của Richard Johnson. Chẳng có dấu hiệu gì có Francesca trong đó. Nhưng mà mình hy vọng cái gì mới được chứ... Bà ta có chồng, có cuộc sống của bà, còn mình có cuộc sống của mình. Cái loại tình cảm phức tạp này có ích gì... Buổi tối quyến rũ, bữa ăn quyến rũ, người đàn bà quyến rũ. Thôi dừng lại ở đó được rồi. Nhưng mà, trời ơi, bà ấy đẹp quá chừng và nơi bà ấy có một cái gì rất lạ.
Francesca đang làm việc trong chuồng gia súc khi ông lái xe qua. Tiếng kêu của bầy gia súc át cả tiếng động cơ. Robert Kincaid phóng như bay về phía cầu Hogback, chạy đua với ánh sáng ban mai.
Nơi cây cầu thứ hai này, công việc diễn ra tốt đẹp. Cây cầu nằm giữa một thung lũng và sương mù phủ kín khi ông đến đó. ống kính 300 li cho phép ông lấy khung hình cả mặt trời chói lọi từ một góc cao phía trái, cả con đường lót đá trắng đẫm sương dẫn lên cầu và cả cây cầu.
Rồi qua ống ngắm, xuất hiện một nhà nông điều khiển hai con ngựa phủ khăn nâu thẫm, kéo một chiếc xe dọc con đường sỏi trắng. Một trong những người cuối cùng còn lưu giữ truyền thống, Robert Kincaid mỉm cười tự nhủ. Ông biết ông sẽ có một bức ảnh quý và chưa gì đã nghĩ đến nó nằm trên tạp chí, bên cạnh một nền xanh trên đó in tiêu đề của bài phóng sự.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét